Vốn ngoại không thiếu, doanh nghiệp Việt đang thiếu chuẩn để đón

Nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng giải ngân, nhưng phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chí về quản trị, tài chính và xếp hạng tín nhiệm để tiếp cận dòng vốn này.
Diễn đàn An ninh tài chính số Việt Nam sáng 6⁄11 đặt ra một nghịch lý đáng suy ngẫm: dòng vốn quốc tế không hề thiếu, nhưng cánh cửa dẫn tới nó vẫn hẹp với phần lớn doanh nghiệp Việt Nam. Các định chế tài chính quốc tế rất muốn đầu tư vào Việt Nam, song mức độ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của doanh nghiệp trong nước còn rất thấp. Hiện chỉ những tổ chức kinh tế đầu ngành, nhất là ngân hàng, mới đủ điều kiện huy động vốn quốc tế, còn doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ gần như không thể tiếp cận.
Nhu cầu vốn lớn, kênh trong nước đã tới hạn

Theo các chuyên gia tại diễn đàn, nền kinh tế ước tính cần huy động khoảng 1.500 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030 để phát triển. Phần lớn nhu cầu này hiện vẫn phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng trong nước. Ông Nguyễn Hữu Hiệu, Tổng giám đốc FiinGroup, cho rằng tích lũy trong nước sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, huy động từ các tổ chức nước ngoài, gồm vay hợp vốn và phát hành trái phiếu, được kỳ vọng là kênh bù đắp quan trọng. Theo thống kê của FiinGroup, trong 9 tháng đầu năm, các tổ chức kinh tế trong nước đã huy động 24 khoản vay ngoại tệ với tổng giá trị 9,2 tỷ USD. Con số này cho thấy kênh vốn ngoại đã bắt đầu vận hành, nhưng quy mô vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu chung.
PGS. TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC), nhận định nhà đầu tư nước ngoài không thiếu tiền, chỉ có chúng ta đang thiếu doanh nghiệp và dự án đạt chuẩn để huy động vốn từ họ. Nhận định này chạm đúng điểm nghẽn: vấn đề không nằm ở phía cung vốn mà nằm ở năng lực đáp ứng chuẩn mực của phía cầu vốn.
Rào cản nằm ở quản trị, kế toán và xếp hạng tín nhiệm
Để đạt chuẩn huy động vốn quốc tế, doanh nghiệp phải có khung quản trị và tài chính theo tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời được xếp hạng tín nhiệm. Nhà đầu tư quốc tế thường yêu cầu doanh nghiệp được một trong 4 hãng kiểm toán lớn (Big4) kiểm toán và lập báo cáo theo chuẩn mực IFRS thay vì chỉ dùng chuẩn kế toán Việt Nam.
Đây là rào cản lớn với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn chiếm tới 98% số doanh nghiệp cả nước. Nhóm này tiếp cận vốn ngân hàng nội địa còn khó, nên vay vốn hay phát hành trái phiếu quốc tế gần như là điều không thể nếu không có bước chuẩn hóa bài bản từ sớm. Nhiều doanh nghiệp vẫn vận hành theo thói quen gia đình, sổ sách chưa minh bạch, dữ liệu tài chính chưa đủ sâu để trả lời thẩm định chuyên sâu của nhà đầu tư nước ngoài.
Ngay cả khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn, doanh nghiệp và ngân hàng Việt vẫn phải huy động với chi phí cao. Ông Quản Trọng Thành, Giám đốc khối Phân tích của Công ty Chứng khoán Maybank, cho biết lãi suất vay nước ngoài hiện ở mức 6-8% một năm. Nếu cộng chi phí hoán đổi ngoại tệ, mức này lên tới 8-9%. Trong khi đó, tại Philippines, quốc gia đã đạt hạng tín nhiệm đầu tư, lãi suất huy động vốn quốc tế chỉ khoảng 4,5-5%.
Điều kiện tiên quyết: nâng hạng tín nhiệm quốc gia
Theo các chuyên gia, điều kiện tiên quyết để mở rộng cánh cửa vốn ngoại là nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư (Investment Grade). Khi xếp hạng quốc gia được cải thiện, chi phí huy động vốn của toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm theo, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngoại dễ dàng và rẻ hơn.
Câu chuyện vốn ngoại vì thế không chỉ là câu chuyện của riêng giới tài chính. Nó là bài kiểm tra về mức độ trưởng thành của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam: ai chuẩn bị sớm, người đó sẽ có vốn rẻ để bứt phá trong chu kỳ tăng trưởng mới; ai chậm chân, người đó sẽ tiếp tục phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng với chi phí ngày càng đắt đỏ.
Nguồn tin: VnExpress



